Những biểu hiện của bệnh quáng gà
Triệu chứng sớm nhất người bệnh quáng gà dễ nhận ra là nhìn kém trong
môi trường thiếu ánh sáng. Ví dụ như trong nhà chưa bật đèn, trong rạp hát, người
bệnh dễ va vấp vào đồ đạc khi đi lại. Thị lực của người bệnh trong điều kiện
ánh sáng đầy đủ cũng có khi giảm sút.
Khi thăm khám bên ngoài, thông thường không phát hiện được
biểu hiện gì bất thường. Ở giai đoạn muộn của bệnh có thể xuất hiện đục thể thủy
tinh. Khi khám đáy mắt, thầy thuốc có thể tình cờ phát hiện ra những biểu hiện
bất thường ở võng mạc: hiện tượng thu nhỏ kích thước động mạch võng mạc, sự bạc
màu của đĩa thị giác, các đám sắc tố hình tế bào xương ở võng mạc ngoại biên,
hiện tượng phù hoàng điểm dạng nang. Cũng có khi không thấy sự hiện diện của
các đám sắc tố hình tế bào xương ở võng mạc.
Thị trường của người mắc bệnh quáng gà được biểu hiện bằng sự thu hẹp
dần vùng nhìn thấy. Sự thu hẹp này nặng dần tới trở thành thị trường hình ống
tương quan với cách tiến triển nặng dần của bệnh. Lúc này, vùng nhìn thấy của bệnh
nhân sẽ giống như người bình thường nhìn qua một cái ống. Trong vùng còn nhìn
thấy được của người bệnh có thể xuất hiện những vùng nhỏ không nhìn thấy được gọi
là ám điểm và những vùng khuyết thị trường nhỏ này ngày càng lan rộng.
Các xét nghiệm chẩn đoán bệnh
Xét nghiệm chức năng cần làm đầu tiên khi người bệnh khai
nhìn kém trong môi trường được chiếu sáng kém là khám nghiệm thị trường.
Khám nghiệm điện võng mạc là xét nghiệm quan trọng nhất để
đánh giá những bệnh thoái hóa võng mạc di truyền. Kết quả khám nghiệm cho biết
loại tế bào võng mạc bị tổn thương, mức độ trầm trọng của bệnh, tính chất di
truyền, sự liên quan với giới tính của bệnh. Điện võng mạc có thể được làm từ rất
sớm để chẩn đoán xác định bệnh từ khi người bệnh còn là trẻ nhỏ. Khám nghiệm tiến
hành khá dễ dàng, không cần thiết phải gây mê toàn thân.
Việc chẩn đoán phân biệt bệnh thoái hóa sắc tố võng mạc với
những bệnh lý võng mạc khác có thể chữa trị được như nhiễm khuẩn, viêm, tắc mạch
máu... vô cùng quan trọng vì tiên lượng của bệnh này rất xấu. Nếu xảy ra sai
sót trong chẩn đoán có thể ảnh hưởng nặng nề tới tâm lý người bệnh và gia đình
hoặc thái độ điều trị không đúng.
Giải pháp gì?
Người bệnh quáng gà mới được chẩn đoán xác định mắc bệnh thoái hóa sắc
tố võng mạc cần được giải thích để giúp họ hiểu về bệnh, tính chất di truyền,
cách ứng xử trước tình trạng sinh hoạt bị ảnh hưởng khi chức năng thị giác giảm
sút bao gồm hiện tượng giảm thị lực, thị trường thu hẹp, khả năng nhìn trong
môi trường tối kém.
Những người bị bệnh trẻ tuổi có tổn thương thị trường được
khuyến cáo không nên tự lái xe để đảm bảo sự an toàn cho bản thân và những người
cùng tham gia giao thông. Người mắc bệnh ở giai đoạn tiến triển nặng được
khuyên tham dự vào các lớp học thích nghi và tập di chuyển. Người được xếp loại
chính thức mù lòa sẽ được chính quyền ghi nhận để có chính sách hỗ trợ cần thiết.
Việc điều trị bệnh thoái hóa sắc tố võng mạc hiện đang gặp
nhiều khó khăn do đây là bệnh nặng, có tính bẩm sinh, di truyền. Mọi sự can thiệp
của y học cũng chỉ mang tính chất điều trị triệu chứng, hy vọng làm chậm sự tiến
triển của bệnh. Người bệnh có thể được dùng vitamin A palmitat với liều 15.000
đơn vị/ngày theo đường uống. Tuy nhiên, uống vitamin A kéo dài cũng có khả năng
tích lũy trong cơ thể, gây độc cho gan. Việc sử dụng vitamin A liều cao ở người
có thai là chống chỉ định do có khả năng gây đột biến gen.
Hiện tại, các nhà khoa học đang tiến hành thử nghiệm việc phẫu
thuật cấy vi mạch trên võng mạc với mục đích phần nào thay thế chức năng nhận cảm
thị giác của võng mạc đã bị tổn thương nặng do bệnh. Gần đây, các nghiên cứu về
tế bào gốc cũng chỉ ra hướng sử dụng tế bào gốc lành cấy vào võng mạc với hy vọng
các tế bào lành này phát triển trong đáy mắt, thay đổi được phần nào cấu trúc
mô học và cải thiện chức năng võng mạc người bị bệnh. Việc tư vấn về tính di truyền của bệnh rất có
ích cho người bệnh và gia đình trong vấn đề quy hoạch cuộc sống, kết hôn. Anh
chị em ruột và các con của người mắc bệnh thoái hóa sắc tố võng mạc cũng nên được
triệu tập khám và làm các xét nghiệm cần thiết để khẳng định có bị bệnh này hay
không.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Lưu ý: Chỉ thành viên của blog này mới được đăng nhận xét.